Ý kiến thăm dò

Truy cập

Hôm nay:
28
Hôm qua:
12
Tuần này:
138
Tháng này:
263
Tất cả:
72720

Tiềm năng phát triển xã Xuân Phúc

Ngày 20/10/2019 00:00:00

Thực hiện chỉ tiêu kinh tế - xã hội của UBND huyện giao hàng năm và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XX về phát triển các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng- an ninh giai đoạn 2011-2016, xã Xuân Phúc có nhiều thuận lợi cơ bản, song cũng gặp không ít khó khăn, thách thức, như tình hình thiên tai, dịch bệnh trong sản xuất chăn nuôi diễn rakhó khăn phức tạp, điều kiện kinh tế xã hội của xã là xã nghèo, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển kinh tế xã hội của xã.. Vượt qua những khó khăn thách thức, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng uỷ, HĐND xã, sự quan tâm của huyện uỷ, UBND các ban ngành trong huyện; với truyền thống đoàn kết, tự lực, tự cường, năng động, sáng tạo của cán bộ nhân dân các dân tộc đã đưa xã nhà tiếp tục phát triển tương đối toàn diện trên các lĩnh vực. Kinh tế- xã hội, đời sống nhân dân ngày một được ổn định phát triển, QP- AN được củng cố và tăng cường, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Những kết quả chủ yếu đạt được trên các lĩnh vực cụ thể như sau:

19.jpg

1. Về lĩnh vực kinh tế.
-Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt từ 13% đến 16% trở lên, cao hơn so với giai đoạn 2006-2010 là 7% đến 10%. Tốc độ phát triển về giá trị sản xuất bình quân hàng năm đạt 25%, bình quân đầu người năm 2012 đạt 9,5 triệu đồng, năm 2013 đạt 11,1 triệu đồng, năm 2014 đạt 12 triệu đồng, năm 2015 đạt 13,8 triệ đồng vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra, Tổng giá trị thu nhập các ngành kinh tế tính đến năm 2015 = 52,64 tỷ đồng cao hơn so với đầu kỳ 2010 là 26,038, 400đ = 137%.
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp tăng từ 20-30%. Tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ tăng từ 10 đến 15%.Trong cơ cấu từng ngành cũng có sự chuyển biến tích cực.
- Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 8,2%/năm . Diện tích, năng suất, sản lượng cây trồng năm sau cao hơn năm trước.Các hoạt động chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỷ thuật trong sản xuất luôn được đẩy mạnh, sản lượng lương thực năm 2011 = 1700 tấn đến năm 2014 = 1800 tấn, vượt mục tiêu nghị quyết đại hội đề ra. Ngoài ra, còn đưa vào sản xuất một số loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như, bí xanh, đậu xanh có giá trị năng xuất cao.
Điểm nổi bật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn vừa qua là đã phát triển cây công nghiệp gắn với sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đó là duy trì và mở rộng vùng bí xanh, cây sắn và một số các loại cây trồng khác, sản xuất đạt kết quả cao giá trị thu nhập từ 100 đến 150 triệu đồng/ha/năm.
- Chăn nuôi theo mô hình trang trại, gia trại phát triển. Chú trọng cải tạo, nâng cao tầm vóc đàn bò. Đàn lợn có chiều hướng phát triển tốt .Công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm được cấp uỷ chính quyền chỉ đạo quyết liệt nên ngày càng đạt kết quả cao. Trong chăn nuôi đã xuất hiện một số mô hình như : nuôi ong mật, lợn cỏ, lợn rừng bước đầu phát triển tốt và cho thu nhập khá. Mặt nước, ao hồ được tận dụng để nuôi trồng thuỷ sản đem lại thu nhập lớn cho nhân dân giá trị sản xuất đạt 2.4%.
- Lĩnh vực lâm nghiệp cây công nghiệp ngắn ngày, đã triển khai thực hiện tốt việc khoanh nuôi tái sinh và bảo vệ 1.134.81 ha, trong đó rừng phòng hộ và 319.70 ha, rừng đặc dụng 57 ha, rừng sản xuất và đất lâm nghiệp khác 758.11 ha. Việc quản lý bảo vệ rừng ngày càng đi vào nề nếp, được triển khai đồng bộ tới các ngành các thôn và đến từng hộ dân, do vậy công tác mua bán khai thác vận chuyển lâm sản trái phép cơ bản được ngăn chặn; hiện tượng cháy rừng, phá rừng làm nương rẫy không xảy ra. Nét nổi bật trong hoạt động lâm nghiệp là 5 năm trồng mới hơn 545 ha,trong đó tham gia dự án WB3 = 450 ha, thu nhập hàng năm đạt từ 2 tỷ đến 3 tỷ đồng.
- Kinh tế trang trại tiếp tục phát triển và khẳng định vị trí trong phát triển nông nghiệp nông thôn. Số trang trại giữ ổn định và phát triển khá với thu nhập bình quân từ 26 triệu đồng/trang trại/ năm trở lên. Vì vậy không chỉ thu hút, giải quyết việc làm tại chỗ cho hàng chục lao động, giúp cho nhiều hộ thoát nghèo, vươn lên khá mà còn đã góp phần tạo nên bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp một cách hợp lý. Sản phẩm phụ từ rừng trồng và các sản phẩm khác trong lâm nghiệp mang lại giá trị sản xuất tăng bình quân 10-15%.
- Giá trị sản xuất TTCN xây dựng tăng bình quân hàng năm 4%, tập trung ở lĩnh vực khai thác sản xuất vật liệu xây dựng và các ngành nghề dân dụng khác. Một số cơ sở sản xuất kinh doanh đã có hiệu quả cao, giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động tại địa phương, đồng thời mang lại thu nhập đáng kể cho các hộ gia đình, Đáng chú ý là hình sản xuất kinh tế hộ cá thể đã đem lại thu nhập ổn định cho lao động địa phương.
- Dịch vụ phát triển đa dạng có chuyển biến tích cực cả quy mô và chất lượng, đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế và phục vụ đời sống nhân dân. Chiếm tỷ trọng 6%. Kết cấu hạ tầng các ngành dịch vụ phát triển hiệu quả.
2. Lĩnh vực văn hoá, xã hội;
- Hoạt động có bước chuyển biến tích cực theo hướng chuẩn hóa và xã hội hóa; an sinh xã hội được tăng cường quan tâm chăm lo; đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng lên. Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và giữ vững, hoàn thành phổ cập giáo dục THCS đạt mục tiêu kế hoạch trước thời hạn. Cơ sở vật chất trường học được tập trung đầu tư, đến năm 2015 tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 85%. trường chuẩn quốc gia mức độ 1 đến năm 2015 là 2 trường đó là trường Tiểu học và trường Mầm non.
- Phong trào xây dựng và hoạt động về lĩnh vực văn hoá thể dục thể thao được quan tâm phát triển, tỷ lệ xây dựng gia đình văn hoá năm sau cao hơn năm trước đến nay đã xây dựng được 6 làng và 3 cơ quan văn hoá đạt 70%, gia đinh văn hoá đạt 40%, công tác thể dục thể thao được quan tâm phát triển đồng bộ
- Cơ sở vật chất văn hoá ở xã và thôn được đầu tư cải tạo nâng cấp đến nay 100% các thôn có nhà văn hoá và khuôn viên theo chuẩn, 8/9 thôn được xây dựng nhà văn hoá đạt chuẩn theo quy định, đời sống tinh thần của nhân dân được nâng cao, 98% số hộ trở lên sử dụng điện an toàn, hệ thống truyên thanh, thông tin liên lạc,thiết bị nghe nhìn được nhân dân mua sắm sử dụng rộng rãi ở địa phương, đặc biệt là công nghệ thông tin đã phát triển mạnh mẽ, tỷ lệ khoảng 70/100hộ dân có điện thoại các loại, 40% sư dụng công nghệ thông tin qua mạng Internet các loại.
- Về công tác ytế luôn được quan tâm và tăng cường đầu tư cơ sở vật chất năm 2015 đã đầu tư xây dựng công trình trạm xá với tổng mức đầu tư là 4,7 tỷ đồng, đảm bảo mọi yếu tố phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân, trong 5 năm qua xã đã phấn đấu chỉ đạo nhân dân thực hiện tốt công tác vệ sinh môi trường, kết quả đạt 51% số hộ dùng nhà tiêu hợp vệ sinh; tỷ lệ dân số sử dụng nước hợp vệ sinh là 90%, đã được công nhận Xã chuẩn quốc gia về ytế đến năm 2020.
- Công tác DSKHHGĐ. Đảm bảo tốt công tác truyền thông dân số KHHGĐ, tỷ lệ dân số ổn định ở mức 1%, hạ tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi suy dinh dưỡng chiều cao và cân nặng bình quân hàng năm từ 1 đến 4%.
- Công tác chính sách xã hội luôn được quan tâm coi trọng, mọi chủ trương chính sách của Đảng nhà nước đối với người nghèo, người có công cách mạng, chương trình mục tiêu quốc gia 134, 135 đối với đồng bào dân tộc miền núi, chương trình xoá đói giảm nghèo và các chính sách an sinh xã hội khác được thực hiện một cách kịp thời, công khai dân chủ, đúng quy định của nhà nước kết quả thực hiện trong 5 năm trên các lĩnh vực là; tỷ lệ hộ nghèo năm 2011 là 65% năm 2015giảm xuống còn 27,9%, hoàn thành mục tiêu xoá nhà tranh tre dột nát và công trình giếng nước, nhà vệ sinh cho hộ nghèo thuộc đồng bào dân tộc miền núi, kết quả xây dựng và hổ trợ đầu tư xây dựng được 121 nhà 134/CP, 145 công trình giếng nước cho các hộ, hàng năm thực hiện tốt việc lập quản lý cấp phát thẻ bảo hiểm cho hộ nghèo, hộ chính sách, bình quân mỗi năm tư 2000 đến 2,500 thẻ đạt 85% tổng dân số, các chính sách ưu đãi cho học sinh sinh viên và cách chính sách ưu đãi khác, đáp ứng tốt công tác chính sách xã hội ở địa phương nói chung.
3. Quốc phòng - An ninh,
- Về công tác quốc phòng; Tổ chức tốt công tác quản lý, củng cố xây dựng lực lượng dân quân từ xã đến thôn, bổ sung đội ngũ cán bộ và lực lượng dân quân nòng cốt, thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ chiến sỹ lực lượng DQTV, DBĐV, Rà soát, phúc tra dân quân trong độ tuổi, tổ chức tập huấn, huấn luyện cho lực lượng dân quân năm theo quy định đạt 100%. Đảm bảo chỉ tiêu khám nghĩa vụ và tuyển quân hàng năm, 100% thanh niên nhập ngủ hoàn thành nhiệm vụ không có đào bỏ ngủ.
Tổ chức triển khai hướng dẫn cho các đối tượng thực hiện các chế độ chính sách hậu phương quân đội, chính sách người có công thăm hỏi động viên tặng quà các gia đình NCC, gia đình quân nhân tại ngũ nhân ngày lể tết. Đảm bảo tốt nhiệm vụ quốc phòng ở địa phương.
- Nhiệm vụ ANTT; Tổ chức tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện nhiệm vụ ANTT, 5 năm qua tình hình an ninh chính trị trật tự ATXH luôn được ổn định vững chắc,các vụ việc xảy ra hàng năm giảm nhiều, các hành vi, vi phạm pháp luật được ngăn chặn và xử lý hoà giải kịp thời ngay từ thôn xóm. Triển khai thực hiện tốt các chủ trương kế hoạch đảm bảo ANTT của các cấp, đặc biệt thực hiện chỉ thị số 10 và đề án 375 của tỉnh, thực hiện tốt NĐ số 40/NQ- TW và hướng dẫn 506 của công an các cấp về chương trình toàn dân bảo vệ ANTQ, NQ 09/CP chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, tổ chức tốt các hội nghị công an lắng nghe ý kiến nhân dân. Thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng khu dân cư an toàn về an ninh trật tự hàng năm 9/9 khu dân cư tổ chức hưởng ứng triệt để đạt từ 70% trở lên khu dân cư đạt khu dân cư an toàn về ANTT.

16.jpg

4. Chương trình xây dựng nông thôn mới.
- Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới được quan tâm chú trọng và chỉ đạo thực hiện đạt kết quả cao, đến nay xã đã đạt 10/19 tiêu chí, ở thôn có thôn 2 và thôn 8 đạt 10/14 tiêu chí, còn lại các thôn đạt từ 4 đến 7/ 14 tiêu chí, mọi lĩnh vực của xã được phát triển đồng bộđáp ứng cho nhu cầu sản xuất phát triển kinhtế, đảm bảo an sinh xã hội. Mạng lưới điện nông thôn tiếp tục được đầu tư hoàn thiện đến nay gần 100% đường dây xương cá được thay cáp bọc, huy độngvốn đầu tư phát triển trong 5 năm đạt59,577,740đồng vượt chỉ tiêu đề ra 34,577,740 đồng = 139%, trong đó vốn trung ương đầu tư là 29,032 triệu đồng, tỉnh đầu tư là 1,701 triệu đồng, huyện là 1,851 triệu đồng, xã là 378,800 nghìn đồng,nhân dân đóng góp là 23,906,740 nghìn đồng, trong đó tiền mặt 19,212,320 nghìn đồng. Vốn tín dụng dân vay đầy tư xây dựng là 2,604 triệu đồng. Vốn Bộ đội hổ trợ là 104 triệu đồng. Trường, lớp học, công sở xã, trạm y tế, công trình giao thông, thuỷ lợi được cải tạo, nâng cấp. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư đáng kể cơ bản đảmbảo cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của địa phương, hệ thống giao thông liên xã, liên thôn được đầu tư xây dựng cứng hoá đạt trên 60%, trong đó đường liên xã nhựa hoá, bê tông hoá 13,8 km đạt 100%, đường liên thôn được nhựa và bê tông hoá 9,67 km đạt 48,8%, hệ thống thuỷ lợi được đầu tư cải tạo nâng cấp và kiên cố hoá đến nay đã có 10/18 hồ đập đã được kiên cố hoá đảm bảo cho phục vụ sản xuất phát triển kinh tế.
5. Xây dựng chính quyền.
- Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, trong 5 năm qua được sự phối hợp của UBMTTQ, các ngành đoàn thể của xã và nhân dân các dân tộc trong xã, quan tâm phối hợp xây dựng chính quyền ngày một vững mạnh toàn diện, Đội ngủ cán bộ công chức của xã đến năm 2016 cơ bản đã đạt chuẩn theo quy định, tổng số cán bộ và côngchức được biên chế là 23đ/c.Trong đóNữ 07 = 30,4%. Đồng bào DTTS 06 = 26,1%. Trình độ văn hóa: THPT là 20 = 91%, THCS 2 = 1%. Trình độ chuyên môn: TC là 10 = 45,5%; ĐH là 12 = 54,5%. Trình độ lý luận chính trị: SC là 02 = 9%; TC là 15 = 68,3%; Chưa qua đào tạo là 05 = 22,7%. Tuổi đời bình quân là 40,5 tuổi, xuất phát từ sự quan tâm đào tạo bồi dưỡng chuyên môm nghiệp vụ, lý luận chính trị, giáo dục chính trị tư tưỡng, đạo, gắn với việc học tập và làm theo tấm gương “ Đạo đức Hồ Chí Minh”, nên đội ngủ cán bộ đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, tham mưu hoạt động có hiệu quả nhiệm vụ được giao, từ đó mà UBND xã luôn nâng cao vai trò quản lý nhà nước, tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành, hoạt động của chính quyền ở địa phương, ổn định công tác tổ chức cán bộ ở xã, thực hiện đảm bảo chế độ hoạt động theo quy định của pháp luật và quy chế hoạt động, chế độ làm việc theo chương trình, kế hoạch công tác của cơ quan, phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất dân chủ trong nội bộ, vì vậy mà cơ bản UBND xã đã phát huy được vai trò quản lý Nhà nước của chính quyền ở địa phương trong 5 năm qua, thực hiện hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, đội ngủ cán bộ cơ bản đã phát huy được vai trò nhiệm vụ được giao. Thực hiện tốt chức năng tham mưu cho cấp uỷ lãnh đạo các ngành và nhân dân trong xã thực hiện nhiệm vụ trên các lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, xây dựng hạ tầng cơ sở, giao thông thuỷ lợi, cơ sở vật chất văn hoá, giáo dục ytế, đặc biệt là xây dựng nông thôn mới dạt kết quả cao.
6. Thực hiện pháp lệnh 34/CP - Cải cách thủ tục hành chính - Phòng chống tham nhũng lãng phí và công tác tiếp dân giải quyết khiếu nại, tố cáo.
- Với chức năng quản lý nhà nước cấp xã, 5 năm qua UBND xã đã luôn nổ lực cố gắng làm tốt vai trò trách nhiệm, nâng cao năng lực quản lý nhà, thực hiện tốt các biện pháp sửa đổi lề lối làm việc, phòng chống tham nhũng lãng phí, chống quan lưu cửa quyền, gây phiền hà cho nhân dân, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo hướng dân chủ hoá, công khai hoá, tổ chức thực hiện tốt chức năng rà soát, soạn thảo in ấn phát hành, tiếp nhận và triển khai các loại văn bản, công văn của các cấp và cấp mình, đảm bảo kịp thời, chính xác đúng qui định của pháp luật. UBND đã phối hợp với UBMTTQ và các ban ngành thực hiện tốt công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật cho nhân dân, làm tốt công tác dân vận trong mọi lĩnh vực nhất là công tác giải phóng mặt bằng xây dựng các công trình của xã và xây dựng nông thôn mới, mọi chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước, chủ trương nhiệm vụ của địa phương đều được UBND xã triển khai thực hiện công khai dân chủ trên mọi lĩnh vực, thực hiện triệt để nghị định 34/CP của chính phủ về quy chế dân chủ, đặc biệt là thực hiện tốt công tác tiếp dân giải quyết khiếu nại, tố cáo, 5 năm qua không để xảy ra tình trạng đơn thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp kéo dài khó giải quyết, 5 năm qua trong xã có 12 đơn chủ yếu là kiến nghị về việc tranh chấp đất đai hộ cá nhân gia đình các đơn này đều được giải quyết tại địa phương có 01 đơn tranh chấp đất đai thôn 7 đề nghị huyện giải quyết, nhìn chung mọi hoạt động của địa phương đều được thực hiện công khai dân chủ đúng quy định vì vậy mà được nhân dân đồng tình ủng hộ.

19.jpg

1. Về lĩnh vực kinh tế.
-Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt từ 13% đến 16% trở lên, cao hơn so với giai đoạn 2006-2010 là 7% đến 10%. Tốc độ phát triển về giá trị sản xuất bình quân hàng năm đạt 25%, bình quân đầu người năm 2012 đạt 9,5 triệu đồng, năm 2013 đạt 11,1 triệu đồng, năm 2014 đạt 12 triệu đồng, năm 2015 đạt 13,8 triệ đồng vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra, Tổng giá trị thu nhập các ngành kinh tế tính đến năm 2015 = 52,64 tỷ đồng cao hơn so với đầu kỳ 2010 là 26,038, 400đ = 137%.
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp tăng từ 20-30%. Tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ tăng từ 10 đến 15%.Trong cơ cấu từng ngành cũng có sự chuyển biến tích cực.
- Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 8,2%/năm . Diện tích, năng suất, sản lượng cây trồng năm sau cao hơn năm trước.Các hoạt động chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỷ thuật trong sản xuất luôn được đẩy mạnh, sản lượng lương thực năm 2011 = 1700 tấn đến năm 2014 = 1800 tấn, vượt mục tiêu nghị quyết đại hội đề ra. Ngoài ra, còn đưa vào sản xuất một số loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như, bí xanh, đậu xanh có giá trị năng xuất cao.
Điểm nổi bật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn vừa qua là đã phát triển cây công nghiệp gắn với sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đó là duy trì và mở rộng vùng bí xanh, cây sắn và một số các loại cây trồng khác, sản xuất đạt kết quả cao giá trị thu nhập từ 100 đến 150 triệu đồng/ha/năm.
- Chăn nuôi theo mô hình trang trại, gia trại phát triển. Chú trọng cải tạo, nâng cao tầm vóc đàn bò. Đàn lợn có chiều hướng phát triển tốt .Công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm được cấp uỷ chính quyền chỉ đạo quyết liệt nên ngày càng đạt kết quả cao. Trong chăn nuôi đã xuất hiện một số mô hình như : nuôi ong mật, lợn cỏ, lợn rừng bước đầu phát triển tốt và cho thu nhập khá. Mặt nước, ao hồ được tận dụng để nuôi trồng thuỷ sản đem lại thu nhập lớn cho nhân dân giá trị sản xuất đạt 2.4%.
- Lĩnh vực lâm nghiệp cây công nghiệp ngắn ngày, đã triển khai thực hiện tốt việc khoanh nuôi tái sinh và bảo vệ 1.134.81 ha, trong đó rừng phòng hộ và 319.70 ha, rừng đặc dụng 57 ha, rừng sản xuất và đất lâm nghiệp khác 758.11 ha. Việc quản lý bảo vệ rừng ngày càng đi vào nề nếp, được triển khai đồng bộ tới các ngành các thôn và đến từng hộ dân, do vậy công tác mua bán khai thác vận chuyển lâm sản trái phép cơ bản được ngăn chặn; hiện tượng cháy rừng, phá rừng làm nương rẫy không xảy ra. Nét nổi bật trong hoạt động lâm nghiệp là 5 năm trồng mới hơn 545 ha,trong đó tham gia dự án WB3 = 450 ha, thu nhập hàng năm đạt từ 2 tỷ đến 3 tỷ đồng.
- Kinh tế trang trại tiếp tục phát triển và khẳng định vị trí trong phát triển nông nghiệp nông thôn. Số trang trại giữ ổn định và phát triển khá với thu nhập bình quân từ 26 triệu đồng/trang trại/ năm trở lên. Vì vậy không chỉ thu hút, giải quyết việc làm tại chỗ cho hàng chục lao động, giúp cho nhiều hộ thoát nghèo, vươn lên khá mà còn đã góp phần tạo nên bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp một cách hợp lý. Sản phẩm phụ từ rừng trồng và các sản phẩm khác trong lâm nghiệp mang lại giá trị sản xuất tăng bình quân 10-15%.
- Giá trị sản xuất TTCN xây dựng tăng bình quân hàng năm 4%, tập trung ở lĩnh vực khai thác sản xuất vật liệu xây dựng và các ngành nghề dân dụng khác. Một số cơ sở sản xuất kinh doanh đã có hiệu quả cao, giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động tại địa phương, đồng thời mang lại thu nhập đáng kể cho các hộ gia đình, Đáng chú ý là hình sản xuất kinh tế hộ cá thể đã đem lại thu nhập ổn định cho lao động địa phương.
- Dịch vụ phát triển đa dạng có chuyển biến tích cực cả quy mô và chất lượng, đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế và phục vụ đời sống nhân dân. Chiếm tỷ trọng 6%. Kết cấu hạ tầng các ngành dịch vụ phát triển hiệu quả.
2. Lĩnh vực văn hoá, xã hội;
- Hoạt động có bước chuyển biến tích cực theo hướng chuẩn hóa và xã hội hóa; an sinh xã hội được tăng cường quan tâm chăm lo; đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng lên. Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và giữ vững, hoàn thành phổ cập giáo dục THCS đạt mục tiêu kế hoạch trước thời hạn. Cơ sở vật chất trường học được tập trung đầu tư, đến năm 2015 tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 85%. trường chuẩn quốc gia mức độ 1 đến năm 2015 là 2 trường đó là trường Tiểu học và trường Mầm non.
- Phong trào xây dựng và hoạt động về lĩnh vực văn hoá thể dục thể thao được quan tâm phát triển, tỷ lệ xây dựng gia đình văn hoá năm sau cao hơn năm trước đến nay đã xây dựng được 6 làng và 3 cơ quan văn hoá đạt 70%, gia đinh văn hoá đạt 40%, công tác thể dục thể thao được quan tâm phát triển đồng bộ
- Cơ sở vật chất văn hoá ở xã và thôn được đầu tư cải tạo nâng cấp đến nay 100% các thôn có nhà văn hoá và khuôn viên theo chuẩn, 8/9 thôn được xây dựng nhà văn hoá đạt chuẩn theo quy định, đời sống tinh thần của nhân dân được nâng cao, 98% số hộ trở lên sử dụng điện an toàn, hệ thống truyên thanh, thông tin liên lạc,thiết bị nghe nhìn được nhân dân mua sắm sử dụng rộng rãi ở địa phương, đặc biệt là công nghệ thông tin đã phát triển mạnh mẽ, tỷ lệ khoảng 70/100hộ dân có điện thoại các loại, 40% sư dụng công nghệ thông tin qua mạng Internet các loại.
- Về công tác ytế luôn được quan tâm và tăng cường đầu tư cơ sở vật chất năm 2015 đã đầu tư xây dựng công trình trạm xá với tổng mức đầu tư là 4,7 tỷ đồng, đảm bảo mọi yếu tố phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân, trong 5 năm qua xã đã phấn đấu chỉ đạo nhân dân thực hiện tốt công tác vệ sinh môi trường, kết quả đạt 51% số hộ dùng nhà tiêu hợp vệ sinh; tỷ lệ dân số sử dụng nước hợp vệ sinh là 90%, đã được công nhận Xã chuẩn quốc gia về ytế đến năm 2020.
- Công tác DSKHHGĐ. Đảm bảo tốt công tác truyền thông dân số KHHGĐ, tỷ lệ dân số ổn định ở mức 1%, hạ tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi suy dinh dưỡng chiều cao và cân nặng bình quân hàng năm từ 1 đến 4%.
- Công tác chính sách xã hội luôn được quan tâm coi trọng, mọi chủ trương chính sách của Đảng nhà nước đối với người nghèo, người có công cách mạng, chương trình mục tiêu quốc gia 134, 135 đối với đồng bào dân tộc miền núi, chương trình xoá đói giảm nghèo và các chính sách an sinh xã hội khác được thực hiện một cách kịp thời, công khai dân chủ, đúng quy định của nhà nước kết quả thực hiện trong 5 năm trên các lĩnh vực là; tỷ lệ hộ nghèo năm 2011 là 65% năm 2015giảm xuống còn 27,9%, hoàn thành mục tiêu xoá nhà tranh tre dột nát và công trình giếng nước, nhà vệ sinh cho hộ nghèo thuộc đồng bào dân tộc miền núi, kết quả xây dựng và hổ trợ đầu tư xây dựng được 121 nhà 134/CP, 145 công trình giếng nước cho các hộ, hàng năm thực hiện tốt việc lập quản lý cấp phát thẻ bảo hiểm cho hộ nghèo, hộ chính sách, bình quân mỗi năm tư 2000 đến 2,500 thẻ đạt 85% tổng dân số, các chính sách ưu đãi cho học sinh sinh viên và cách chính sách ưu đãi khác, đáp ứng tốt công tác chính sách xã hội ở địa phương nói chung.
3. Quốc phòng - An ninh,
- Về công tác quốc phòng; Tổ chức tốt công tác quản lý, củng cố xây dựng lực lượng dân quân từ xã đến thôn, bổ sung đội ngũ cán bộ và lực lượng dân quân nòng cốt, thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ chiến sỹ lực lượng DQTV, DBĐV, Rà soát, phúc tra dân quân trong độ tuổi, tổ chức tập huấn, huấn luyện cho lực lượng dân quân năm theo quy định đạt 100%. Đảm bảo chỉ tiêu khám nghĩa vụ và tuyển quân hàng năm, 100% thanh niên nhập ngủ hoàn thành nhiệm vụ không có đào bỏ ngủ.
Tổ chức triển khai hướng dẫn cho các đối tượng thực hiện các chế độ chính sách hậu phương quân đội, chính sách người có công thăm hỏi động viên tặng quà các gia đình NCC, gia đình quân nhân tại ngũ nhân ngày lể tết. Đảm bảo tốt nhiệm vụ quốc phòng ở địa phương.
- Nhiệm vụ ANTT; Tổ chức tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện nhiệm vụ ANTT, 5 năm qua tình hình an ninh chính trị trật tự ATXH luôn được ổn định vững chắc,các vụ việc xảy ra hàng năm giảm nhiều, các hành vi, vi phạm pháp luật được ngăn chặn và xử lý hoà giải kịp thời ngay từ thôn xóm. Triển khai thực hiện tốt các chủ trương kế hoạch đảm bảo ANTT của các cấp, đặc biệt thực hiện chỉ thị số 10 và đề án 375 của tỉnh, thực hiện tốt NĐ số 40/NQ- TW và hướng dẫn 506 của công an các cấp về chương trình toàn dân bảo vệ ANTQ, NQ 09/CP chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, tổ chức tốt các hội nghị công an lắng nghe ý kiến nhân dân. Thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng khu dân cư an toàn về an ninh trật tự hàng năm 9/9 khu dân cư tổ chức hưởng ứng triệt để đạt từ 70% trở lên khu dân cư đạt khu dân cư an toàn về ANTT.

16.jpg

4. Chương trình xây dựng nông thôn mới.
- Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới được quan tâm chú trọng và chỉ đạo thực hiện đạt kết quả cao, đến nay xã đã đạt 10/19 tiêu chí, ở thôn có thôn 2 và thôn 8 đạt 10/14 tiêu chí, còn lại các thôn đạt từ 4 đến 7/ 14 tiêu chí, mọi lĩnh vực của xã được phát triển đồng bộđáp ứng cho nhu cầu sản xuất phát triển kinhtế, đảm bảo an sinh xã hội. Mạng lưới điện nông thôn tiếp tục được đầu tư hoàn thiện đến nay gần 100% đường dây xương cá được thay cáp bọc, huy độngvốn đầu tư phát triển trong 5 năm đạt59,577,740đồng vượt chỉ tiêu đề ra 34,577,740 đồng = 139%, trong đó vốn trung ương đầu tư là 29,032 triệu đồng, tỉnh đầu tư là 1,701 triệu đồng, huyện là 1,851 triệu đồng, xã là 378,800 nghìn đồng,nhân dân đóng góp là 23,906,740 nghìn đồng, trong đó tiền mặt 19,212,320 nghìn đồng. Vốn tín dụng dân vay đầy tư xây dựng là 2,604 triệu đồng. Vốn Bộ đội hổ trợ là 104 triệu đồng. Trường, lớp học, công sở xã, trạm y tế, công trình giao thông, thuỷ lợi được cải tạo, nâng cấp. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư đáng kể cơ bản đảmbảo cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của địa phương, hệ thống giao thông liên xã, liên thôn được đầu tư xây dựng cứng hoá đạt trên 60%, trong đó đường liên xã nhựa hoá, bê tông hoá 13,8 km đạt 100%, đường liên thôn được nhựa và bê tông hoá 9,67 km đạt 48,8%, hệ thống thuỷ lợi được đầu tư cải tạo nâng cấp và kiên cố hoá đến nay đã có 10/18 hồ đập đã được kiên cố hoá đảm bảo cho phục vụ sản xuất phát triển kinh tế.
5. Xây dựng chính quyền.
- Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, trong 5 năm qua được sự phối hợp của UBMTTQ, các ngành đoàn thể của xã và nhân dân các dân tộc trong xã, quan tâm phối hợp xây dựng chính quyền ngày một vững mạnh toàn diện, Đội ngủ cán bộ công chức của xã đến năm 2016 cơ bản đã đạt chuẩn theo quy định, tổng số cán bộ và côngchức được biên chế là 23đ/c.Trong đóNữ 07 = 30,4%. Đồng bào DTTS 06 = 26,1%. Trình độ văn hóa: THPT là 20 = 91%, THCS 2 = 1%. Trình độ chuyên môn: TC là 10 = 45,5%; ĐH là 12 = 54,5%. Trình độ lý luận chính trị: SC là 02 = 9%; TC là 15 = 68,3%; Chưa qua đào tạo là 05 = 22,7%. Tuổi đời bình quân là 40,5 tuổi, xuất phát từ sự quan tâm đào tạo bồi dưỡng chuyên môm nghiệp vụ, lý luận chính trị, giáo dục chính trị tư tưỡng, đạo, gắn với việc học tập và làm theo tấm gương “ Đạo đức Hồ Chí Minh”, nên đội ngủ cán bộ đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, tham mưu hoạt động có hiệu quả nhiệm vụ được giao, từ đó mà UBND xã luôn nâng cao vai trò quản lý nhà nước, tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành, hoạt động của chính quyền ở địa phương, ổn định công tác tổ chức cán bộ ở xã, thực hiện đảm bảo chế độ hoạt động theo quy định của pháp luật và quy chế hoạt động, chế độ làm việc theo chương trình, kế hoạch công tác của cơ quan, phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất dân chủ trong nội bộ, vì vậy mà cơ bản UBND xã đã phát huy được vai trò quản lý Nhà nước của chính quyền ở địa phương trong 5 năm qua, thực hiện hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, đội ngủ cán bộ cơ bản đã phát huy được vai trò nhiệm vụ được giao. Thực hiện tốt chức năng tham mưu cho cấp uỷ lãnh đạo các ngành và nhân dân trong xã thực hiện nhiệm vụ trên các lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, xây dựng hạ tầng cơ sở, giao thông thuỷ lợi, cơ sở vật chất văn hoá, giáo dục ytế, đặc biệt là xây dựng nông thôn mới dạt kết quả cao.
6. Thực hiện pháp lệnh 34/CP - Cải cách thủ tục hành chính - Phòng chống tham nhũng lãng phí và công tác tiếp dân giải quyết khiếu nại, tố cáo.
- Với chức năng quản lý nhà nước cấp xã, 5 năm qua UBND xã đã luôn nổ lực cố gắng làm tốt vai trò trách nhiệm, nâng cao năng lực quản lý nhà, thực hiện tốt các biện pháp sửa đổi lề lối làm việc, phòng chống tham nhũng lãng phí, chống quan lưu cửa quyền, gây phiền hà cho nhân dân, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo hướng dân chủ hoá, công khai hoá, tổ chức thực hiện tốt chức năng rà soát, soạn thảo in ấn phát hành, tiếp nhận và triển khai các loại văn bản, công văn của các cấp và cấp mình, đảm bảo kịp thời, chính xác đúng qui định của pháp luật. UBND đã phối hợp với UBMTTQ và các ban ngành thực hiện tốt công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật cho nhân dân, làm tốt công tác dân vận trong mọi lĩnh vực nhất là công tác giải phóng mặt bằng xây dựng các công trình của xã và xây dựng nông thôn mới, mọi chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước, chủ trương nhiệm vụ của địa phương đều được UBND xã triển khai thực hiện công khai dân chủ trên mọi lĩnh vực, thực hiện triệt để nghị định 34/CP của chính phủ về quy chế dân chủ, đặc biệt là thực hiện tốt công tác tiếp dân giải quyết khiếu nại, tố cáo, 5 năm qua không để xảy ra tình trạng đơn thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp kéo dài khó giải quyết, 5 năm qua trong xã có 12 đơn chủ yếu là kiến nghị về việc tranh chấp đất đai hộ cá nhân gia đình các đơn này đều được giải quyết tại địa phương có 01 đơn tranh chấp đất đai thôn 7 đề nghị huyện giải quyết, nhìn chung mọi hoạt động của địa phương đều được thực hiện công khai dân chủ đúng quy định vì vậy mà được nhân dân đồng tình ủng hộ.

CÔNG KHAI KQ TTHC