Ý kiến thăm dò

Truy cập

Hôm nay:
14
Hôm qua:
12
Tuần này:
124
Tháng này:
249
Tất cả:
72706

Lễ hội Kin chiêng boọc mạy

Ngày 16/10/2019 00:00:00

        

         52decf83818967d73e98.jpg

              Làng Roộc Răm (người Thái gọi là bản Roộc Răm), xã Xuân Phúc, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa nằm về phía Tây – Nam tỉnh Thanh Hóa, cách tỉnh lỵ khoảng 45km theo đường Quốc lộ 10; cách trung tâm xã Xuân Phúc khoảng 3km. Phía đông của bản giáp xã Yên Thọ (huyện Như Thanh), phía tây giáp thôn Bái Con (thôn 2), phía nam giáp xã Phúc Đường (huyện Như Thanh); phía bắc giáp làng Đồng Chuối và làng Đồng Quốc - hai làng thuộc xã Xuân Phúc.

Làng Roộc Răm có diện tích tự nhiên 220,4 ha, trong đó đất lâm nghiệp là 194,8 ha, đất nông nghiệp 22,1 ha, đất thổ cư 3,3ha1. Đây là vùng thung lũng xung quanh có núi non bao bọc. Phía đông là dãy núi Lum, kéo dài từ xã Yên Thọ đến hết phía tây nam của làng. Phía nam cách làng khoảng 1 km là một dãy núi đá vôi nhỏ rộng khoảng 3 ha, đã tạo nên một điểm đột khởi trong không gian chung của làng.

Những cánh đồng nằm ở thung lũng chân núi tạo điều kiện cho dân làng phát triển nghề trồng lúa nước từ bao đời nay. Vùng đồi núi là địa bàn cho việc phát triển kinh tế theo hướng kết hợp vườn - rừng - chăn nuôi gia súc như trâu, bò, dê.

Với một vị trí như vậy, làng Roộc Răm rất thuận lợi cho việc ngụ binh, luyện tập quân sự, cũng như việc lánh nạn trong cuộc đấu tranh chống chọi với thiên nhiên để sinh tồn, phát triển và chống giặc ngoại xâm.

Làng Roộc Răm nói riêng, phía tây nam Thanh Hóa nói chung trước kia là những cánh rừng rậm bao phủ trên một vùng đất đai rộng lớn. Khoảng cuối thế kỷ XVIII có ông Hà Công Uẩn dân tộc Thái thuộc Mường Khoòng (nay là xã Điền Lư, huyện Bá Thước) cùng con trai là Hà Công Yên đến đây (làng Rộc Răm) phát rẫy làm nương sinh sống. Ông Hà Công Uẩn đặt tên là bản Hoốc. Khi ông mất, người con trai tiếp tục khai phá đất đai lập bản.

Năm 1875, ông Quách Tấn Quốc cùng con trai là Quách Văn Kỵ đến vùng này sinh sống, chia nhỏ và đặt tên riêng cho mỗi phần đất như: đồng Trung, đồng Quốc, đồng Chuối, Bái Con, Cò Đỉnh, Roộc Răm; đồng thời phân công người cai quản; Ông Hà Công Yên cùng con trai Hà Công Một về Đồng Quạ sinh sống.

Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ông Lục Văn Ê cùng em rể là Hà Văn Ót từ Cổ Lũng (Bá Thước) về đây kết nghĩa anh em với những người đến trước để làm ăn sinh sống.

Năm 1903, ông Lục Văn Quảng cùng em rể là Lò (Lô) Văn Phận từ Chiềng Lau (Bá Thước) di cư về đây. Năm 1908, ông Bùi Văn Trồi cùng con trai là Bùi Văn Trặm, cháu nội là Bùi Văn Nghênh từ “Đồng Trổ” (nay là xã Yên Lạc) tiếp tục về khai hoang lập thành làng “Voi Nằm”, nay gọi là Bái Dẻ.

Vào khoảng năm 1910, ba anh em họ Quách (Quách Văn Tấn, Quách Văn Chọp, Quách Văn Cóc) từ Đồng Du (nay là xã Xuân Thái, huyện Như Xuân) di cư đến đây làm ăn sinh sống. Năm 1942, ông Hoàng Ích Thiện cùng con trai là Hoàng Quốc Khánh từ Tĩnh Gia di cư về làng.

Như vậy, quá trình di cư của các dòng họ đến làng Roộc Răm làm ăn sinh sống diễn ra trong khoảng hơn hai thế kỷ, đến nay làng đã có 6 dòng họ định cư gồm họ Hà, họ Lò (Lô), họ Lục, họ Bùi, họ Quách, họ Hoàng. Buổi ban đầu chỉ có 4 - 5 nóc nhà, đến nay làng Roộc Răm đã phát triển tới gần 100 hộ với hơn 500 nhân khẩu. Trong quá trình sinh sống, các dòng họ kết nghĩa anh em, khai phá ruộng nương, nuôi tằm dệt vải và phát triển cuộc sống.

Về mặt hành chính: Làng Roộc Răm thời Nguyễn thuộc tổng Xuân Du, châu Như Xuân, thuộc Mường Lân Ru. Theo sách Đại nam Nhất thống chí (tỉnh Thanh Hóa – tập thượng) chép: Châu Như Xuân ở phía Nam tỉnh, cách 47 dặm. Phía đông giáp huyện Nông Cống, phủ Tĩnh Gia; phía tây giáp châu Thường Xuân; phía nam tiếp giáp phủ Quảng Châu, tỉnh Nghệ An; phía bắc liền huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân. Nguyên trước là đất của huyện Nông Cống và châu Thường Xuân. Năm Thành Thái thứ 6 (1895), tách 2 tổng Du – Xuân (trước tên là Lân Du) và Lãng Lăng huyện Nông Cống, cùng mấy xã ven núi lập ra 3 tổng Xuân Du, Hạ Thưởng và Lãng Lăng lại lấy thêm tổng Như Lăng trong châu Thường Xuân cho thuộc thêm vào, đặt ra tên châu ngày nay và đặt chức châu úy. Hiện nay  lãnh 4 tổng, 34 xã thôn1.

Như vậy, đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, làng Roộc Răm thuộc tổng Lân Du, châu Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa (châu Như Xuân gồm 4 tổng là Lân Du, Lãng Lăng; Như Lăng và Hạ Thương).

Sau Cách mạng tháng Tám 1945 xóa bỏ đơn vị tổng, làng Roộc Răm thuộc xã Vĩnh Hòa, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1964, thực hiện Quyết định số 232-NV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, chia Vĩnh Hòa thành 3 xã lấy tên là Xuân Phúc, Hải Vân, Xuân Khang.

Ngày 29/2/1988, theo Quyết định số 19-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, xã Xuân Phúc được chia thành 2 xã lấy tên là Xuân Phúc và Phúc Đường.

Ngày 18/11/1996 Chính phủ ra Nghị định số 72-CP thành lập huyện Như Thanh trên cơ sở 16 xã của huyện Như Xuân là Thanh Kỳ, Thanh Tân, Xuân Thái, Yên Lạc, Yên Thọ, Xuân Phúc, Phúc Đường, Xuân Thọ, Xuân Khang, Hải Long, Phú Nhuận, Mậu Lâm, Phượng Nghi, Xuân Du, Cán Khê, Hải Vân.

Hiện nay, xã Xuân Phúc có 9 (thôn, làng), tương ứng với các làng truyền thống.

- Thôn 1: có tên gọi là làng Roộc Răm, Thôn 2: làng Bái Con, Thôn 3: làng Đồng Quốc,  Thôn 4: làng Đồng Chuối,  Thôn 5: làng Đồng Quạ,  Thôn 6: làng Trại Quan, Thôn 7: làng Đồng Xả, Thôn 8: làng Nước Trong, Thôn 9: làng Đồng Trung.

Hiện nay, làng Roộc Răm có tổng số 145 hộ, với 570 nhân khẩu gồm 3 dân tộc  cùng nhau sinh sống, trong đó người Thái chiếm đa số dân cư.
519005894d83abddf292.jpg

            - Về văn hóa truyền thống: Làng Roộc Răm có ba dân tộc cùng chung sống là người Kinh, người Mường và người Thái, trong đó người Thái chiếm số lượng nhiều nhất, là thành phần chính tạo nên sắc thái của một bản người Thái truyền thống. Mặc dù dân cư không thuần nhất những mỗi dân tộc đều giữ được phong tục tập quán riêng của mình và được cộng đồng tôn trọng. Các sinh hoạt văn hóa của dân tộc này thì dân tộc khác cũng có thể tham dự và  ngược lại. Chính đặc điểm này đã tạo nên sự “thống nhất trong đa dạng” và hình thành nên tình thương yêu, đoàn kết giúp đỡ nhau trong sinh hoạt và tạo dựng cuộc sống của người dân làng Roộc Răm trong mấy trăm năm lịch sử.

Hàng năm tại làng Roộc Răm còn bảo tồn được khá đậm nét những sinh hoạt văn hóa truyền thống như:

- Hội làng ngày 7 tháng Giêng (theo hình thức hội Mường);

- Lễ Tem Phạ (lễ để tang trời hết sấm) ngày 15 tháng Chín (Âm lịch);

- Lễ tục Kin chiêng Boọc Mạy (từ tháng 11 đến tháng Giêng, tháng Hai);

- Lễ làm vía khi về nhà mới;

- Lễ mừng dâu, rể, mừng thọ, mừng có cháu mới;

- Tục lệ hội, phe giúp nhau làm nhà;

- Tục lệ cưới xin, ma chay theo nghi lễ riêng của từng dân tộc (người Kinh, người Thái, người Mường). Bên cạnh những tục lệ sinh hoạt, cộng đồng cư dân ở đây còn có hình thức tín ngưỡng thờ cúng, các vị thần thuộc về thiên nhiên như thờ nướcđất - nơi cư trú của mình của người Thái , năm lễ lớn thì mổ trâu, năm lễ nhỏ thì mổ lợn. Người Thái ở đây cũng có truyền thống dệt thổ cẩm lâu đời và sự dụng ngôn ngữ người Thái có yếu tố cổ truyền.

- Về truyền thống lịch sử: Cùng với quá trình lập làng dựng bản, người làng Roộc Răm đã phát huy truyền thống khai hoang mở đất, tham gia vào công cuộc giải phóng đất nước trong các cuộc kháng chiến của dân tộc cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945 – 1954; đã để lại những dấu tích về mặt lịch sử đến ngày nay.

Dưới thời phong kiến, vào thế kỷ XV, tương truyền có một đạo quân của Lê Lợi, trên đường tiến quân từ Nghệ An ra Thăng Long, khi đi qua làng đã dừng chân tại đây và lập một điếm canh, sau này đã thành một địa điểm lịch sử gọi là Eo Điếm.

Cũng theo truyền thuyết, Trần Công Bát là tướng quân của Lê Lợi, trên đường rút lui vào Nghệ An, đã bị thương rất nặng, ông đã không để rơi vào tay giặc, đã đến bãi kè làng Roộc Răm tự vẫn, sau này để tưởng nhớ đến công đức hy sinh của ông, nhân dân đã xây dựng đền thờ để thờ phụng đặt tên là Đền Cấm.

Đặc biệt, trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã Xuân Phúc, nhân dân làng Roộc Răm đã nghe theo tiếng gọi của Đảng và Bác Hồ kính yêu vùng lên tham gia cuộc tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám 1945. Trong cuộc chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945, 1954, hang dơi đã trở thành công binh xưởng chỉ đạo vũ khí phục vụ cho các chiến dịch Tây Bắc, Thượng Lào, Điện Biên Phủ, trong đó có sự đóng góp của nhân dân làng Roộc Răm đùm bọc che chở. Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đã có 75 thanh niên của làng lên đường nhập ngũ, trong đó có 7 người đã vĩnh viễn ở lại các chiến trường, 4 người là thương binh, có  gia đình có 2 người con là liệt sĩ.

Cũng như đồng bào Thái ở một số vùng khác tại Thanh Hóa, bộ phận người Thái đang cư trú sinh sống ở làng Roộc Răm, xã Xuân Phúc, huyện Như Thanh, cho tới nay vẫn còn giữ được tục lệ “Lăm chá Kin chiêng boọc mạy” (hát múa ăn mừng dưới cây Bông). Trước kia dân làng tổ chức vào dịp tháng Giêng, tháng Hai, theo chu kỳ cứ ba năm làm “đại”, một năm làm “tiểu”.  Những năm gần đây dân làng còn kết hợp làm thêm tục lệ Lăm chá Kin chiêng Boọc Mạy vào dịp “Tết cơm mới” (Xển xển khảu mơơ) ngày 15 tháng 11 (Âm lịch).

Để tiến hành làm “Lăm chá Kin chiêng Boọc Mạy”, đồng bào Thái ở Roộc Răm phải tiến hành làm lễ “Tem phạ” (lễ hết sấm nộp tang Trời), được bắt đầu từ tháng 9 (Âm lịch), mọi nhà đều phải treo các dải chỉ xanh đỏ - để tang Trời 3 ngày.

Việc tổ chức Lăm chá Kin chiêng Boọc Mạy có thể diễn ra ở phạm vi các gia đình (thường những năm làm tiểu); còn những năm dân làng tổ chức làm “đại” thì tục lệ này được diễn ra tại Đền Cấm - nơi làng thờ Thành hoàng - ông Trần Công Bát, với mục đích là tạ ơn thần linh, mở hội ăn mừng sau một năm lao động để cầu cho dân làng bình an, mạnh khỏe, tiếp tục làm nương rẫy tốt.

Nội dung: tế lễ thần linh gồm: Mường Trời, thổ địa, thần núi, thần rừng, Thành hoàng. Làm Lễ cơm mới, Lễ cầu may, cầu mát, giải hạn, cầu lành cho dân. Tổ chức chơi “bói hoa”, diễn tả một số trò chơi dân gian mô phỏng việc lao động sản xuất, sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của người xưa, trong xã hội Thái cổ truyền.

Trước kia, việc tổ chức “Lăm chá Kin chiêng Boọc Mạy” ở bản Roộc Răm do dòng họ Hà (là dòng dõi nhà Mo từ Mường Khoòng, Bá Thước di cư tới) chủ trì. Dòng họ Lò (Lô) thường được chọn làm Bào chớ, Sao chớ1. Sau này dòng họ Hà không tìm được người có đủ khả năng để truyền nghề “Mo” nữa nên họ Hà quyết định truyền nghề Mo cho dòng họ Lò (Lô). Cũng từ đó, việc tiến hành Lăm chá Kin chiêng Boọc Mạy trong bản, trong mường do dòng họ Lô đảm nhiệm. Hiện nay, ông Lô Đình Ước, 70 tuổi, dân tộc Thái (là đời thứ 9 của nhà Mo) đứng ra chủ trì giúp dân làng tổ chức làm Lăm chá Kin chiêng Boọc Mạy. Ngoài ra các Bào chớ Sao chớ những người được chọn để phục vụ thầy, đều là những nhân vật quan trọng giúp thầy điều khiển cuộc vui.

Trong buổi lễ này, toàn bộ dân làng đều đến tham dự để mong được bình an, mạnh khỏe, làm ăn may mắn, góp trò vui (nếu người nào không đến được, sau này sẽ phải tự đến nhà thầy Mo để xin được giải hạn, cầu may, cầu mát). Nhân dân các vùng lân cận cũng có thể đến tham dự và góp vui.

992965cd7cc49a9ac3d5.jpg

             Tục lệ này không chỉ phản ánh tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa của bộ phận người Thái mà trở thành sinh hoạt cộng đồng, kéo theo cả bộ phận người Mường, người Kinh cùng chung sống lâu đời ở đây tham gia.“Mường Roộc Răm quê tôi từ khi có đất và nước, có vua Mường Trời, có Phật cao thiên. Tôi Mo mùn mường này, xin mặc áo thăng gươm, đội mũ chầu ấn tề, Mo tôi có dòng, dòng nhà Mo có dõi, được Trời đất giao cho kiếm lệnh, có tổ tông truyền bá lâu đời. Roộc Răm mường này quê tôi có chủ đất, chủ nước, có thổ công long mạch, có Thành hoàng bản địa; hôm nay ngày lành tháng tốt dân bản làng Roộc Răm, gồm già trẻ gái trai cùng chung lòng chung dạ, sắm lễ tế các thần linh có cả mâm chay để thỉnh Phật; lợn, gà, to, sạch, đẹp; rượu cần, rượu xiêu, trầu, cau, xôi trắng, xôi màu xin dâng tế thần linh, thành hoàng, thổ địa, thần linh ở trên núi, có công giúp dân làng, bảo vệ lúa nương, rẫy, trừ ma tà yêu quái, hiện linh về hái lá chữa bệnh, Phật tổ người đức thiện dạy dân làm các điều lành, tránh làm điều ác, dạy phép làm các bài thuốc tốt chữa bệnh cho muôn dân. Các thần nghe lời thỉnh của thầy, theo khói hương của dân bản, mùi hương thơm của bản mường, theo lời khấn của thầy, các thần về ngự tại ngai thờ Đền Cấm, làng Roộc Răm nơi linh thiêng thổ công long địa có công giúp dân làng giữ đất màu tươi tốt, không cho các ma tà quấy nhiễu, người trong làng trong bản không ốm đau bệnh tật. Thành hoàng Trần Công Bát người có công giúp dân đánh giặc bảo vệ bản làng Roộc Răm, người ở mường dưới lên cả làng cùng đánh, giặc ở mường trên xuống cả làng đều dẹp, không quên ơn người có công với bản làng, cả làng lập Đền Cấm làm nơi thờ phụng, Mo tôi cùng dân bản, các Bào chớ, Sao chớ xin tế lễ thần linh mời cùng về Đền Cấm để ăn mừng Lăm chá Kin chiêng boọc mạy, bảo vệ dân làng bình an. Mo tôi mời tất cả các thần về đây, thần nào cũng có nơi có chỗ để ngồi, có mâm để ăn. Ở trên cao nhất có cửa phật hai bàn bên là của thần linh. Mo tôi kể lại cho các thần linh được nghe có mâm lợn gà, xôi các Bào chớ, Sao chớ dâng lên, kể lại cho các thần biết lợn đẹp, lợn to ở trong chuồng, Bào chớ vào bắt lợn đem ra, Sao chớ bắt gà mang đến, Bào chớ cầm chân trước lợn ngã xuống, cắt lấy tiết, tiết lợn chảy ra, tiết gà chảy hết, lợn chết, gà chết, khiêng lợn gà ra khe nước trong làm lông, làm ruột sạch sẽ đưa về nhà bắc nồi luộc chín, các Bào chớ, Sao chớ vớt ra đặt vào lá chuối trên mâm, có cả xôi lúa ruộng, lúa nương, Bào chớ, Sao chớ đem ra ngai đền đặt lên bàn thờ. Mo tôi xin mời thần linh về dự lễ Kin chiêng boọc mạy cùng ăn cơm uống rượu với dân làng, che chở cho dân làng bình an mạnh khỏe làm lúa nước không cho thua, làm nương rẫy không cho thiếu, cánh đồng nào lúa cũng tốt ngập đầu ngựa, lúa nương rẫy xanh tốt bời bời như cây rừng, được như lời thầy Mo tôi ước, được như lời thầy Mo tôi cầu. Mọi nhà muốn lợn gà đầy đàn, nuôi trâu, bò sinh sôi nảy nở. Các thần linh cùng vui mừng với làng, với bản ăn bữa cơm này bảo vệ cho dân làng vui “Lăm chá Kin chiêng boọc mạy”bình an. Mo tôi cùng Bào chớ, Sao chớ chắp tay cúi đầu bái lạy các thần linh. Hết rượu chai mới sang rượu cần, rượu cần này của dân làng đem đến, rượu ngọt như mật, cay như quế trên rừng, xin mời các thần linh uống rượu, ứng linh vào cây Bông của làng, ứng linh cho con đồng của thầy, để báo việc tốt lành, việc xấu cho dân bản cùng nghe, việc tốt cùng nhau làm, việc xấu Mo cầu Mo ước xin thần chứng cho về vui mừng Kin chiêng boọc mạy hàng năm”.
Phờ có mi pan kín pan dú. Mơi pắn thú lái tang, dang chú mệt chú dáo chú quân hót ké óc xớ chén nga ló hót láu xớ chó nga khăm, xóng mứ tư chén ke khúm nhau, chén láu khúm hóm, láu tó xụp hau mơi mác láu tó pác hau ténh đí kin mệt thói ke mơi thái kháu mệt thói láu cháu thói ngai, mư xai băn kháu niếu na, mư khòa mứa bai thú khíp kín căm, chin măn xằn chịn chép chướng long khóng áng, ằn lơ có nó chú chướng bướng đờ có nó chú dong, kín kháu chịn cáy nhớ xống táu chịn cáy tháu xống mưa, xép toọng báu kín lái, xép toọng lai kín đú nha bạy quân kín quân dú cộc thú đớ páy chai mưa chai pài thú đớ pay khíp mưa khíp, kín po nó ím
Đáy kín ke khúm nhau, đáy kín háu hóm bán, khúm bán mương dú khóe, liệng ngua mi ngua khàu lai liêng khoai, mi khoai khùa á, liệng mà pín má hóm mà huống, ệt háy bó xùa , ệt mua bó xiếu tống tớ thuốm ngua, tống nứa thuốm mạ, đáy cá xiếng mó mương bá á pác chiện mó mương xó nho mư xó bái.
- Thầy Mo cùng dân làng dâng thần linh cơm mới (nàng Mường sắp mâm cơm mới (tại chỗ). Thầy Mo cùng Bào chớ, Sao chớ và dân làng dâng mâm cơm đặt lên bàn thờ, trong tay mỗi người cầm một nắm quả ké, vừa nâng mâm mọi người vừa hô dố dô… vừa tung quả ké vào đầu mọi người xung quanh (ai được dính nhiều quả ké là người may mắn). Thầy Mo cùng vái, Bào chớ, Sao chớ vái thần linh 4 lần, sau đó thầy ngồi đọc bài cúng, Bào chớ, Sao chớ ngồi xung quanh, khi thầy đọc xong bài cúng tất cả cúng vái (4 lần).
       Nội dung bài cúng được khắp bằng tiếng Thái: “Lời nàng Trời nhập với nàng Phenh, ánh vàng đẹp vào với nàng lạm, ánh mây vàng vào với nàng mường, hiện vào với các Ma thiện để thức làng, hiện vào với nàng mang giọng nói ấm áp khéo léo, hiện vào các quan lớn quan nhỏ để chúc mừng (tạo). Quan Trời ưa nàng từ khi còn bé (đỏ) ông mến nàng từ lúc còn thơ, trăm năm trước lúc còn nằm cữ, nằm nôi (trong bếp). Trời thấy thương cho người xuống thêm, ba mươi ông quan nhỏ, chín mươi ông quan lớn, tám mươi ông phìa lớn, năm mươi ông tạo ma mùn, tám mươi ông mo già, chín mươi người Mo thạo, ông Mo lớn bên Ma tốt giọng, ông Mo lớn nhà nàng lắm phép đi đâu cũng có áo dài màu xanh, trên đầu đội mũ da hổ, đi từ Trời xuống, theo dấu chân voi của nàng từ xưa để lại, voi nuôi quen từ lâu đời truyền lại.
0e4b3f487142971cce53.jpg

      Hết năm có tháng, hết tháng có ngày, cây vông nở chim toen khoen báo mùa cơm mới. Một mình Ma nhà thầy bàn không nổi, chỉ một người ở dưới bàn không nên, nàng phải thu các quân binh ở mường dưới đi theo hầu. Tất cả binh quân lên lưng voi, lên lưng ngựa, cỡi voi đi trước nàng pi, cỡi voi nhỏ đi sau nàng mường. Đường qua núi đá, khe suối lên dốc, xuyên rừng, củ gừng vàng đã mọc hai bên đường, đi theo bờ suối đi cả ngày lẫn đêm, đường khó khăn khúc khuỷu quân ta đều qua, voi và ngựa càng đi càng hăng. Nón dải xanh dải vàng cầm chắc, nón quai xám quai xét rụng không tiếc. Quân đi hàng ba, quân đi hàng bảy, hết đất mường lương gian, lên đến mường nhà Trời có lều nhưng không có chạn lên đến nhà sàn không có phên. Trai hầu vào làm chạn, lính hầu vào làm phên người gắp tranh nhanh như làm gà vịt, người làm phên nhanh như gắp cá, vì việc vội không nghỉ lại được. Quân đi đến chỗ Trời, Trời lấy lá lợp bản, lấy đá lập mường, đến nơi lấy đá kim cương lập nước (đất nước) lên làm đá lớn Trời mài dao, nơi hòn đá đỏ Trời mài kiếm sắc như dao cạo. Tới mường trời thầy có rừng cọ, rừng dừa, lên đến trước cửa nhà mường mùn, mường mày, đẹp bằng phẳng có hình cong tựa sừng trâu, phi ngựa không mắc gai mây, đua voi không mắc gai hèo. Về đến sân vua Trời cột voi, bước vào nhà vua Trời ngồi, bước đến ghế vua trời tựa. Ông ngủ thật, ông đi chơi, ông ngủ thật nàng Mường thức dậy, ông đi chơi nàng pi về tìm, ông đi chơi chợ nàng Mường gọi theo, ông đi uống rượu bỏ cuộc mà về, vì công việc lương gian đang vội. Vua Trời thấy vậy nén dạ lại hỏi 3 - 4 mươi làng mường lên đây đã về, ở mường dưới có ai không ở bản hay ở mường dưới có người không khỏe, nàng Mường lại nói, các con Trò mường dưới đưa đang ở bản và mạnh khỏe. Nàng Pi, nàng Mường lên đón cây Bông, khi chim toèn khoèn báo mùa cơm mới, bông vông nở đỏ tháng hai chỉ quân ở dưới thì không đủ sai, chỉ quân binh nhà thầy không đủ khiến.
     Nàng Mường lên đón Phia Luông người xuống, lên đón Phia già người xuống lương gian, Phia lớn vào nhà đánh trống âm, Phia già vào nhà đánh trống tơ (dây tơ). Đánh trống âm họp mường ta tới, đánh trống tơ (dây tơ). Đánh trống âm họp mường ta tới, đánh trống cái thu quân ta lại, mời ông khóa giữ đất, giữ nước, giữ mường, mời quân binh ông khóa giữ nương, giữ rẫy nhiều quân đi theo, mời ông dựng bản nuôi dân như tổ ong nhỏ, mời ao uổng nàng ngoan lấy quân theo xuống mường với Tạo, Lào, Luông, có đôi chân khỏe, Xá Mán Lào Lự đôi chân có hoa. Mời nàng Han người đẹp toàn diện có nhiều tài (trèo dừa có đôi chân lên trước) tất cả cùng xuống ăn cơm, dự hội. Trai làng Trời vào sửa soạn lấy voi, sửa soạn lấy ngựa, voi to cho bàn lớn, ngựa đẹp cho yên vàng, voi lớn bảo vệ chủ, ngựa lớn bảo vệ Phia, đưa xà lắc lên lưng voi và lên lưng ngựa. Voi lớn ngựa cũ cùng nhau tiến bước, voi đi chậm không lấy chân đạp, khi voi mệt không lấy chân đá, lấy chân đạp nàng Mường không bạo (khỏe), lấy chân đá nàng pi không sống lâu. Có roi vàng, roi bạc quân mường Trời khiến. Kéo quân qua cánh đồng lớn nhà Trời, có ruộng lúa vàng, qua làng, qua bản, qua cánh rừng vàng úa, vì vội quân binh không nghỉ, đến mường nàng Noọng đầu suối, mường nàng lo ru em, ru em ru tiếng vui, ru cháu lời hay. Đi xuống đến nương rẫy nhà Trời vào chọi chim khiếu, đi đến nương nhà Trời vào chọi chim cu, chim sáo, nơi này có ma quấn quýt bên nhau. Xuống đến rừng núi mường trời chim quạ đậu, ma mường trời chặt cây đánh dấu mường. Voi cùng ngựa ra đi nhanh xuống đến đất mường dưới lương gian, mường các thần linh lương gian hội họp, qua cánh đồng lúa vàng, qua cánh đồng lúa bạc, xuống đến suối nước trong, xuống đến suối nước tắm, xuống đến lương gian ta tắm cho voi, xuống đến mường này ta tắm cho ngựa, tắm voi xong ta về bản, tắm ngựa xong ta về mường. Đến sân nhà nàng Mường cho voi ngựa dừng lại, các quân đến tháo yên tháo đồ, cho voi ngựa nghỉ ngơi, sai quân binh bảo vệ lấy ngựa voi, bảo vệ đồ đạc; các phia lớn vào nhà nghỉ ngơi uống rượu, các binh quân chi tướng cùng nghỉ ngơi uống rượu, Xuống đến mường cho đi xem lợn, con lợn đẹp mới dược làm bữa, thịt lợn mổ ra để bày mâm cơn, hồn lợn gửi về Trời, lợn không buồn vì có Trời, cùng vua Trời xuống đây nên được dùng làm cơm.
     Cho trai mường vào bắt, trai em càm chân trước lợn ngã sấp, trai em cầm chân sau lợn ngã nghiêng, dao nhọn sắc ghé vào cắt tiết, tiết chảy ra hết thì lợn chết, khiêng lợn về tảng đá suối nước trong, thui lợn, cạo lợn trắng phau; mổ bụng làm sạch ruột sạch lòng, cạo thật sạch cho con cá lớn, làm sạch sẽ cho con cá chát được ăn, cá tệt ăn chạy về hát, cá chát ăn no trở về bằng, mọi thứ đều sạch sẽ đem về nhà, trai làng, chặt thịt, chia lợn ra nhiều mảnh, nhiều phần. Lấy nồi đồng to hai tai bắc lên kiềng, lấy nước trong xuống đổ vào, lấy củi cây pào, cây dẻ, cây xăng để đun. Nước sôi từ trong nồi ra, đều bốn bên thịt chín trắng phau, lòng lợn chín tới vớt ra thúng ra nia. Trai em chặt thịt ra nhiều món, dọn cho đủ các phần, gái làng đem lá chuối sang, mâm sợi mây dem đến, dọn thịt lợn cùng cơm đỏ cơm vàng có cả ché rượu lớn cùng đem sang, dọn thành cơm mâm cơm đẹp, cơm lành cho phìa lớn phìa già cùng binh quân được ăn. Sẵn mâm cơm nàng Mường sang mời, sẵn chỉnh rượu nàng mường sang mời, dẫn mâm cơm cho người mường Trời được thấy, kể mâm cơm cho mọi người được hay, mâm cơm đẹp như cơm dá nang (nàng đẹp, cơm sạch sẽ). Mo dẫn cơm nàng Mường mời ăn, tay trái nắm cơm dẻo, tay phải cầm đũa gắp, gắp thịt lợn thơm, gắp lòng lợn ngọt, gan phổi ăn vào mát, tim ruột ăn thật ngon, xương sống có mùi thơm, xương sườn mềm đủ tới, xương ức, xương sụn mời cùng thử, xương chân, xương cổ ăn thêm, mọi người cùng rót rượu ra, ăn tiết canh ngọt lịm, tiết canh làm mát lòng. Mâm cơn trai mường đưa ra, mâm cơm mường dưới đưa đến, cơm ngon, canh ngọt mọi người cùng ăn, được ăn cơm; bênh cho người mường dưới ở khỏe, hết tháng đi cày ruộng cả, tiếng sấm dậy đi cày ruộng mùa, cho họ làm ruộng dưới đừng thua, làm mùa ruộng trên không thiếu, bông lúa dài như dòng suối, lúa chắc như trứng cua, ruộng trên ngập đầu ngựa, cuối ruộng ngập đầu trâu đầu bò, lúa chắc như trứng chim, ai cũng mong như thế. Xá, Man, Lào, Lự đem về làm giống được đẹp như lời nàng Mường nói, được đẹp như lòng người Thái bản mường, lời nói vàng đôi tay trắng ngà giơ lên mời, giọng nói hay
nói tốt mời mọi người ăn ngon”.

Lê Tuyên 






























Lễ hội Kin chiêng boọc mạy

Đăng lúc: 16/10/2019 00:00:00 (GMT+7)

        

         52decf83818967d73e98.jpg

              Làng Roộc Răm (người Thái gọi là bản Roộc Răm), xã Xuân Phúc, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa nằm về phía Tây – Nam tỉnh Thanh Hóa, cách tỉnh lỵ khoảng 45km theo đường Quốc lộ 10; cách trung tâm xã Xuân Phúc khoảng 3km. Phía đông của bản giáp xã Yên Thọ (huyện Như Thanh), phía tây giáp thôn Bái Con (thôn 2), phía nam giáp xã Phúc Đường (huyện Như Thanh); phía bắc giáp làng Đồng Chuối và làng Đồng Quốc - hai làng thuộc xã Xuân Phúc.

Làng Roộc Răm có diện tích tự nhiên 220,4 ha, trong đó đất lâm nghiệp là 194,8 ha, đất nông nghiệp 22,1 ha, đất thổ cư 3,3ha1. Đây là vùng thung lũng xung quanh có núi non bao bọc. Phía đông là dãy núi Lum, kéo dài từ xã Yên Thọ đến hết phía tây nam của làng. Phía nam cách làng khoảng 1 km là một dãy núi đá vôi nhỏ rộng khoảng 3 ha, đã tạo nên một điểm đột khởi trong không gian chung của làng.

Những cánh đồng nằm ở thung lũng chân núi tạo điều kiện cho dân làng phát triển nghề trồng lúa nước từ bao đời nay. Vùng đồi núi là địa bàn cho việc phát triển kinh tế theo hướng kết hợp vườn - rừng - chăn nuôi gia súc như trâu, bò, dê.

Với một vị trí như vậy, làng Roộc Răm rất thuận lợi cho việc ngụ binh, luyện tập quân sự, cũng như việc lánh nạn trong cuộc đấu tranh chống chọi với thiên nhiên để sinh tồn, phát triển và chống giặc ngoại xâm.

Làng Roộc Răm nói riêng, phía tây nam Thanh Hóa nói chung trước kia là những cánh rừng rậm bao phủ trên một vùng đất đai rộng lớn. Khoảng cuối thế kỷ XVIII có ông Hà Công Uẩn dân tộc Thái thuộc Mường Khoòng (nay là xã Điền Lư, huyện Bá Thước) cùng con trai là Hà Công Yên đến đây (làng Rộc Răm) phát rẫy làm nương sinh sống. Ông Hà Công Uẩn đặt tên là bản Hoốc. Khi ông mất, người con trai tiếp tục khai phá đất đai lập bản.

Năm 1875, ông Quách Tấn Quốc cùng con trai là Quách Văn Kỵ đến vùng này sinh sống, chia nhỏ và đặt tên riêng cho mỗi phần đất như: đồng Trung, đồng Quốc, đồng Chuối, Bái Con, Cò Đỉnh, Roộc Răm; đồng thời phân công người cai quản; Ông Hà Công Yên cùng con trai Hà Công Một về Đồng Quạ sinh sống.

Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ông Lục Văn Ê cùng em rể là Hà Văn Ót từ Cổ Lũng (Bá Thước) về đây kết nghĩa anh em với những người đến trước để làm ăn sinh sống.

Năm 1903, ông Lục Văn Quảng cùng em rể là Lò (Lô) Văn Phận từ Chiềng Lau (Bá Thước) di cư về đây. Năm 1908, ông Bùi Văn Trồi cùng con trai là Bùi Văn Trặm, cháu nội là Bùi Văn Nghênh từ “Đồng Trổ” (nay là xã Yên Lạc) tiếp tục về khai hoang lập thành làng “Voi Nằm”, nay gọi là Bái Dẻ.

Vào khoảng năm 1910, ba anh em họ Quách (Quách Văn Tấn, Quách Văn Chọp, Quách Văn Cóc) từ Đồng Du (nay là xã Xuân Thái, huyện Như Xuân) di cư đến đây làm ăn sinh sống. Năm 1942, ông Hoàng Ích Thiện cùng con trai là Hoàng Quốc Khánh từ Tĩnh Gia di cư về làng.

Như vậy, quá trình di cư của các dòng họ đến làng Roộc Răm làm ăn sinh sống diễn ra trong khoảng hơn hai thế kỷ, đến nay làng đã có 6 dòng họ định cư gồm họ Hà, họ Lò (Lô), họ Lục, họ Bùi, họ Quách, họ Hoàng. Buổi ban đầu chỉ có 4 - 5 nóc nhà, đến nay làng Roộc Răm đã phát triển tới gần 100 hộ với hơn 500 nhân khẩu. Trong quá trình sinh sống, các dòng họ kết nghĩa anh em, khai phá ruộng nương, nuôi tằm dệt vải và phát triển cuộc sống.

Về mặt hành chính: Làng Roộc Răm thời Nguyễn thuộc tổng Xuân Du, châu Như Xuân, thuộc Mường Lân Ru. Theo sách Đại nam Nhất thống chí (tỉnh Thanh Hóa – tập thượng) chép: Châu Như Xuân ở phía Nam tỉnh, cách 47 dặm. Phía đông giáp huyện Nông Cống, phủ Tĩnh Gia; phía tây giáp châu Thường Xuân; phía nam tiếp giáp phủ Quảng Châu, tỉnh Nghệ An; phía bắc liền huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân. Nguyên trước là đất của huyện Nông Cống và châu Thường Xuân. Năm Thành Thái thứ 6 (1895), tách 2 tổng Du – Xuân (trước tên là Lân Du) và Lãng Lăng huyện Nông Cống, cùng mấy xã ven núi lập ra 3 tổng Xuân Du, Hạ Thưởng và Lãng Lăng lại lấy thêm tổng Như Lăng trong châu Thường Xuân cho thuộc thêm vào, đặt ra tên châu ngày nay và đặt chức châu úy. Hiện nay  lãnh 4 tổng, 34 xã thôn1.

Như vậy, đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, làng Roộc Răm thuộc tổng Lân Du, châu Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa (châu Như Xuân gồm 4 tổng là Lân Du, Lãng Lăng; Như Lăng và Hạ Thương).

Sau Cách mạng tháng Tám 1945 xóa bỏ đơn vị tổng, làng Roộc Răm thuộc xã Vĩnh Hòa, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1964, thực hiện Quyết định số 232-NV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, chia Vĩnh Hòa thành 3 xã lấy tên là Xuân Phúc, Hải Vân, Xuân Khang.

Ngày 29/2/1988, theo Quyết định số 19-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, xã Xuân Phúc được chia thành 2 xã lấy tên là Xuân Phúc và Phúc Đường.

Ngày 18/11/1996 Chính phủ ra Nghị định số 72-CP thành lập huyện Như Thanh trên cơ sở 16 xã của huyện Như Xuân là Thanh Kỳ, Thanh Tân, Xuân Thái, Yên Lạc, Yên Thọ, Xuân Phúc, Phúc Đường, Xuân Thọ, Xuân Khang, Hải Long, Phú Nhuận, Mậu Lâm, Phượng Nghi, Xuân Du, Cán Khê, Hải Vân.

Hiện nay, xã Xuân Phúc có 9 (thôn, làng), tương ứng với các làng truyền thống.

- Thôn 1: có tên gọi là làng Roộc Răm, Thôn 2: làng Bái Con, Thôn 3: làng Đồng Quốc,  Thôn 4: làng Đồng Chuối,  Thôn 5: làng Đồng Quạ,  Thôn 6: làng Trại Quan, Thôn 7: làng Đồng Xả, Thôn 8: làng Nước Trong, Thôn 9: làng Đồng Trung.

Hiện nay, làng Roộc Răm có tổng số 145 hộ, với 570 nhân khẩu gồm 3 dân tộc  cùng nhau sinh sống, trong đó người Thái chiếm đa số dân cư.
519005894d83abddf292.jpg

            - Về văn hóa truyền thống: Làng Roộc Răm có ba dân tộc cùng chung sống là người Kinh, người Mường và người Thái, trong đó người Thái chiếm số lượng nhiều nhất, là thành phần chính tạo nên sắc thái của một bản người Thái truyền thống. Mặc dù dân cư không thuần nhất những mỗi dân tộc đều giữ được phong tục tập quán riêng của mình và được cộng đồng tôn trọng. Các sinh hoạt văn hóa của dân tộc này thì dân tộc khác cũng có thể tham dự và  ngược lại. Chính đặc điểm này đã tạo nên sự “thống nhất trong đa dạng” và hình thành nên tình thương yêu, đoàn kết giúp đỡ nhau trong sinh hoạt và tạo dựng cuộc sống của người dân làng Roộc Răm trong mấy trăm năm lịch sử.

Hàng năm tại làng Roộc Răm còn bảo tồn được khá đậm nét những sinh hoạt văn hóa truyền thống như:

- Hội làng ngày 7 tháng Giêng (theo hình thức hội Mường);

- Lễ Tem Phạ (lễ để tang trời hết sấm) ngày 15 tháng Chín (Âm lịch);

- Lễ tục Kin chiêng Boọc Mạy (từ tháng 11 đến tháng Giêng, tháng Hai);

- Lễ làm vía khi về nhà mới;

- Lễ mừng dâu, rể, mừng thọ, mừng có cháu mới;

- Tục lệ hội, phe giúp nhau làm nhà;

- Tục lệ cưới xin, ma chay theo nghi lễ riêng của từng dân tộc (người Kinh, người Thái, người Mường). Bên cạnh những tục lệ sinh hoạt, cộng đồng cư dân ở đây còn có hình thức tín ngưỡng thờ cúng, các vị thần thuộc về thiên nhiên như thờ nướcđất - nơi cư trú của mình của người Thái , năm lễ lớn thì mổ trâu, năm lễ nhỏ thì mổ lợn. Người Thái ở đây cũng có truyền thống dệt thổ cẩm lâu đời và sự dụng ngôn ngữ người Thái có yếu tố cổ truyền.

- Về truyền thống lịch sử: Cùng với quá trình lập làng dựng bản, người làng Roộc Răm đã phát huy truyền thống khai hoang mở đất, tham gia vào công cuộc giải phóng đất nước trong các cuộc kháng chiến của dân tộc cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945 – 1954; đã để lại những dấu tích về mặt lịch sử đến ngày nay.

Dưới thời phong kiến, vào thế kỷ XV, tương truyền có một đạo quân của Lê Lợi, trên đường tiến quân từ Nghệ An ra Thăng Long, khi đi qua làng đã dừng chân tại đây và lập một điếm canh, sau này đã thành một địa điểm lịch sử gọi là Eo Điếm.

Cũng theo truyền thuyết, Trần Công Bát là tướng quân của Lê Lợi, trên đường rút lui vào Nghệ An, đã bị thương rất nặng, ông đã không để rơi vào tay giặc, đã đến bãi kè làng Roộc Răm tự vẫn, sau này để tưởng nhớ đến công đức hy sinh của ông, nhân dân đã xây dựng đền thờ để thờ phụng đặt tên là Đền Cấm.

Đặc biệt, trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã Xuân Phúc, nhân dân làng Roộc Răm đã nghe theo tiếng gọi của Đảng và Bác Hồ kính yêu vùng lên tham gia cuộc tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám 1945. Trong cuộc chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945, 1954, hang dơi đã trở thành công binh xưởng chỉ đạo vũ khí phục vụ cho các chiến dịch Tây Bắc, Thượng Lào, Điện Biên Phủ, trong đó có sự đóng góp của nhân dân làng Roộc Răm đùm bọc che chở. Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đã có 75 thanh niên của làng lên đường nhập ngũ, trong đó có 7 người đã vĩnh viễn ở lại các chiến trường, 4 người là thương binh, có  gia đình có 2 người con là liệt sĩ.

Cũng như đồng bào Thái ở một số vùng khác tại Thanh Hóa, bộ phận người Thái đang cư trú sinh sống ở làng Roộc Răm, xã Xuân Phúc, huyện Như Thanh, cho tới nay vẫn còn giữ được tục lệ “Lăm chá Kin chiêng boọc mạy” (hát múa ăn mừng dưới cây Bông). Trước kia dân làng tổ chức vào dịp tháng Giêng, tháng Hai, theo chu kỳ cứ ba năm làm “đại”, một năm làm “tiểu”.  Những năm gần đây dân làng còn kết hợp làm thêm tục lệ Lăm chá Kin chiêng Boọc Mạy vào dịp “Tết cơm mới” (Xển xển khảu mơơ) ngày 15 tháng 11 (Âm lịch).

Để tiến hành làm “Lăm chá Kin chiêng Boọc Mạy”, đồng bào Thái ở Roộc Răm phải tiến hành làm lễ “Tem phạ” (lễ hết sấm nộp tang Trời), được bắt đầu từ tháng 9 (Âm lịch), mọi nhà đều phải treo các dải chỉ xanh đỏ - để tang Trời 3 ngày.

Việc tổ chức Lăm chá Kin chiêng Boọc Mạy có thể diễn ra ở phạm vi các gia đình (thường những năm làm tiểu); còn những năm dân làng tổ chức làm “đại” thì tục lệ này được diễn ra tại Đền Cấm - nơi làng thờ Thành hoàng - ông Trần Công Bát, với mục đích là tạ ơn thần linh, mở hội ăn mừng sau một năm lao động để cầu cho dân làng bình an, mạnh khỏe, tiếp tục làm nương rẫy tốt.

Nội dung: tế lễ thần linh gồm: Mường Trời, thổ địa, thần núi, thần rừng, Thành hoàng. Làm Lễ cơm mới, Lễ cầu may, cầu mát, giải hạn, cầu lành cho dân. Tổ chức chơi “bói hoa”, diễn tả một số trò chơi dân gian mô phỏng việc lao động sản xuất, sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của người xưa, trong xã hội Thái cổ truyền.

Trước kia, việc tổ chức “Lăm chá Kin chiêng Boọc Mạy” ở bản Roộc Răm do dòng họ Hà (là dòng dõi nhà Mo từ Mường Khoòng, Bá Thước di cư tới) chủ trì. Dòng họ Lò (Lô) thường được chọn làm Bào chớ, Sao chớ1. Sau này dòng họ Hà không tìm được người có đủ khả năng để truyền nghề “Mo” nữa nên họ Hà quyết định truyền nghề Mo cho dòng họ Lò (Lô). Cũng từ đó, việc tiến hành Lăm chá Kin chiêng Boọc Mạy trong bản, trong mường do dòng họ Lô đảm nhiệm. Hiện nay, ông Lô Đình Ước, 70 tuổi, dân tộc Thái (là đời thứ 9 của nhà Mo) đứng ra chủ trì giúp dân làng tổ chức làm Lăm chá Kin chiêng Boọc Mạy. Ngoài ra các Bào chớ Sao chớ những người được chọn để phục vụ thầy, đều là những nhân vật quan trọng giúp thầy điều khiển cuộc vui.

Trong buổi lễ này, toàn bộ dân làng đều đến tham dự để mong được bình an, mạnh khỏe, làm ăn may mắn, góp trò vui (nếu người nào không đến được, sau này sẽ phải tự đến nhà thầy Mo để xin được giải hạn, cầu may, cầu mát). Nhân dân các vùng lân cận cũng có thể đến tham dự và góp vui.

992965cd7cc49a9ac3d5.jpg

             Tục lệ này không chỉ phản ánh tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa của bộ phận người Thái mà trở thành sinh hoạt cộng đồng, kéo theo cả bộ phận người Mường, người Kinh cùng chung sống lâu đời ở đây tham gia.“Mường Roộc Răm quê tôi từ khi có đất và nước, có vua Mường Trời, có Phật cao thiên. Tôi Mo mùn mường này, xin mặc áo thăng gươm, đội mũ chầu ấn tề, Mo tôi có dòng, dòng nhà Mo có dõi, được Trời đất giao cho kiếm lệnh, có tổ tông truyền bá lâu đời. Roộc Răm mường này quê tôi có chủ đất, chủ nước, có thổ công long mạch, có Thành hoàng bản địa; hôm nay ngày lành tháng tốt dân bản làng Roộc Răm, gồm già trẻ gái trai cùng chung lòng chung dạ, sắm lễ tế các thần linh có cả mâm chay để thỉnh Phật; lợn, gà, to, sạch, đẹp; rượu cần, rượu xiêu, trầu, cau, xôi trắng, xôi màu xin dâng tế thần linh, thành hoàng, thổ địa, thần linh ở trên núi, có công giúp dân làng, bảo vệ lúa nương, rẫy, trừ ma tà yêu quái, hiện linh về hái lá chữa bệnh, Phật tổ người đức thiện dạy dân làm các điều lành, tránh làm điều ác, dạy phép làm các bài thuốc tốt chữa bệnh cho muôn dân. Các thần nghe lời thỉnh của thầy, theo khói hương của dân bản, mùi hương thơm của bản mường, theo lời khấn của thầy, các thần về ngự tại ngai thờ Đền Cấm, làng Roộc Răm nơi linh thiêng thổ công long địa có công giúp dân làng giữ đất màu tươi tốt, không cho các ma tà quấy nhiễu, người trong làng trong bản không ốm đau bệnh tật. Thành hoàng Trần Công Bát người có công giúp dân đánh giặc bảo vệ bản làng Roộc Răm, người ở mường dưới lên cả làng cùng đánh, giặc ở mường trên xuống cả làng đều dẹp, không quên ơn người có công với bản làng, cả làng lập Đền Cấm làm nơi thờ phụng, Mo tôi cùng dân bản, các Bào chớ, Sao chớ xin tế lễ thần linh mời cùng về Đền Cấm để ăn mừng Lăm chá Kin chiêng boọc mạy, bảo vệ dân làng bình an. Mo tôi mời tất cả các thần về đây, thần nào cũng có nơi có chỗ để ngồi, có mâm để ăn. Ở trên cao nhất có cửa phật hai bàn bên là của thần linh. Mo tôi kể lại cho các thần linh được nghe có mâm lợn gà, xôi các Bào chớ, Sao chớ dâng lên, kể lại cho các thần biết lợn đẹp, lợn to ở trong chuồng, Bào chớ vào bắt lợn đem ra, Sao chớ bắt gà mang đến, Bào chớ cầm chân trước lợn ngã xuống, cắt lấy tiết, tiết lợn chảy ra, tiết gà chảy hết, lợn chết, gà chết, khiêng lợn gà ra khe nước trong làm lông, làm ruột sạch sẽ đưa về nhà bắc nồi luộc chín, các Bào chớ, Sao chớ vớt ra đặt vào lá chuối trên mâm, có cả xôi lúa ruộng, lúa nương, Bào chớ, Sao chớ đem ra ngai đền đặt lên bàn thờ. Mo tôi xin mời thần linh về dự lễ Kin chiêng boọc mạy cùng ăn cơm uống rượu với dân làng, che chở cho dân làng bình an mạnh khỏe làm lúa nước không cho thua, làm nương rẫy không cho thiếu, cánh đồng nào lúa cũng tốt ngập đầu ngựa, lúa nương rẫy xanh tốt bời bời như cây rừng, được như lời thầy Mo tôi ước, được như lời thầy Mo tôi cầu. Mọi nhà muốn lợn gà đầy đàn, nuôi trâu, bò sinh sôi nảy nở. Các thần linh cùng vui mừng với làng, với bản ăn bữa cơm này bảo vệ cho dân làng vui “Lăm chá Kin chiêng boọc mạy”bình an. Mo tôi cùng Bào chớ, Sao chớ chắp tay cúi đầu bái lạy các thần linh. Hết rượu chai mới sang rượu cần, rượu cần này của dân làng đem đến, rượu ngọt như mật, cay như quế trên rừng, xin mời các thần linh uống rượu, ứng linh vào cây Bông của làng, ứng linh cho con đồng của thầy, để báo việc tốt lành, việc xấu cho dân bản cùng nghe, việc tốt cùng nhau làm, việc xấu Mo cầu Mo ước xin thần chứng cho về vui mừng Kin chiêng boọc mạy hàng năm”.
Phờ có mi pan kín pan dú. Mơi pắn thú lái tang, dang chú mệt chú dáo chú quân hót ké óc xớ chén nga ló hót láu xớ chó nga khăm, xóng mứ tư chén ke khúm nhau, chén láu khúm hóm, láu tó xụp hau mơi mác láu tó pác hau ténh đí kin mệt thói ke mơi thái kháu mệt thói láu cháu thói ngai, mư xai băn kháu niếu na, mư khòa mứa bai thú khíp kín căm, chin măn xằn chịn chép chướng long khóng áng, ằn lơ có nó chú chướng bướng đờ có nó chú dong, kín kháu chịn cáy nhớ xống táu chịn cáy tháu xống mưa, xép toọng báu kín lái, xép toọng lai kín đú nha bạy quân kín quân dú cộc thú đớ páy chai mưa chai pài thú đớ pay khíp mưa khíp, kín po nó ím
Đáy kín ke khúm nhau, đáy kín háu hóm bán, khúm bán mương dú khóe, liệng ngua mi ngua khàu lai liêng khoai, mi khoai khùa á, liệng mà pín má hóm mà huống, ệt háy bó xùa , ệt mua bó xiếu tống tớ thuốm ngua, tống nứa thuốm mạ, đáy cá xiếng mó mương bá á pác chiện mó mương xó nho mư xó bái.
- Thầy Mo cùng dân làng dâng thần linh cơm mới (nàng Mường sắp mâm cơm mới (tại chỗ). Thầy Mo cùng Bào chớ, Sao chớ và dân làng dâng mâm cơm đặt lên bàn thờ, trong tay mỗi người cầm một nắm quả ké, vừa nâng mâm mọi người vừa hô dố dô… vừa tung quả ké vào đầu mọi người xung quanh (ai được dính nhiều quả ké là người may mắn). Thầy Mo cùng vái, Bào chớ, Sao chớ vái thần linh 4 lần, sau đó thầy ngồi đọc bài cúng, Bào chớ, Sao chớ ngồi xung quanh, khi thầy đọc xong bài cúng tất cả cúng vái (4 lần).
       Nội dung bài cúng được khắp bằng tiếng Thái: “Lời nàng Trời nhập với nàng Phenh, ánh vàng đẹp vào với nàng lạm, ánh mây vàng vào với nàng mường, hiện vào với các Ma thiện để thức làng, hiện vào với nàng mang giọng nói ấm áp khéo léo, hiện vào các quan lớn quan nhỏ để chúc mừng (tạo). Quan Trời ưa nàng từ khi còn bé (đỏ) ông mến nàng từ lúc còn thơ, trăm năm trước lúc còn nằm cữ, nằm nôi (trong bếp). Trời thấy thương cho người xuống thêm, ba mươi ông quan nhỏ, chín mươi ông quan lớn, tám mươi ông phìa lớn, năm mươi ông tạo ma mùn, tám mươi ông mo già, chín mươi người Mo thạo, ông Mo lớn bên Ma tốt giọng, ông Mo lớn nhà nàng lắm phép đi đâu cũng có áo dài màu xanh, trên đầu đội mũ da hổ, đi từ Trời xuống, theo dấu chân voi của nàng từ xưa để lại, voi nuôi quen từ lâu đời truyền lại.
0e4b3f487142971cce53.jpg

      Hết năm có tháng, hết tháng có ngày, cây vông nở chim toen khoen báo mùa cơm mới. Một mình Ma nhà thầy bàn không nổi, chỉ một người ở dưới bàn không nên, nàng phải thu các quân binh ở mường dưới đi theo hầu. Tất cả binh quân lên lưng voi, lên lưng ngựa, cỡi voi đi trước nàng pi, cỡi voi nhỏ đi sau nàng mường. Đường qua núi đá, khe suối lên dốc, xuyên rừng, củ gừng vàng đã mọc hai bên đường, đi theo bờ suối đi cả ngày lẫn đêm, đường khó khăn khúc khuỷu quân ta đều qua, voi và ngựa càng đi càng hăng. Nón dải xanh dải vàng cầm chắc, nón quai xám quai xét rụng không tiếc. Quân đi hàng ba, quân đi hàng bảy, hết đất mường lương gian, lên đến mường nhà Trời có lều nhưng không có chạn lên đến nhà sàn không có phên. Trai hầu vào làm chạn, lính hầu vào làm phên người gắp tranh nhanh như làm gà vịt, người làm phên nhanh như gắp cá, vì việc vội không nghỉ lại được. Quân đi đến chỗ Trời, Trời lấy lá lợp bản, lấy đá lập mường, đến nơi lấy đá kim cương lập nước (đất nước) lên làm đá lớn Trời mài dao, nơi hòn đá đỏ Trời mài kiếm sắc như dao cạo. Tới mường trời thầy có rừng cọ, rừng dừa, lên đến trước cửa nhà mường mùn, mường mày, đẹp bằng phẳng có hình cong tựa sừng trâu, phi ngựa không mắc gai mây, đua voi không mắc gai hèo. Về đến sân vua Trời cột voi, bước vào nhà vua Trời ngồi, bước đến ghế vua trời tựa. Ông ngủ thật, ông đi chơi, ông ngủ thật nàng Mường thức dậy, ông đi chơi nàng pi về tìm, ông đi chơi chợ nàng Mường gọi theo, ông đi uống rượu bỏ cuộc mà về, vì công việc lương gian đang vội. Vua Trời thấy vậy nén dạ lại hỏi 3 - 4 mươi làng mường lên đây đã về, ở mường dưới có ai không ở bản hay ở mường dưới có người không khỏe, nàng Mường lại nói, các con Trò mường dưới đưa đang ở bản và mạnh khỏe. Nàng Pi, nàng Mường lên đón cây Bông, khi chim toèn khoèn báo mùa cơm mới, bông vông nở đỏ tháng hai chỉ quân ở dưới thì không đủ sai, chỉ quân binh nhà thầy không đủ khiến.
     Nàng Mường lên đón Phia Luông người xuống, lên đón Phia già người xuống lương gian, Phia lớn vào nhà đánh trống âm, Phia già vào nhà đánh trống tơ (dây tơ). Đánh trống âm họp mường ta tới, đánh trống tơ (dây tơ). Đánh trống âm họp mường ta tới, đánh trống cái thu quân ta lại, mời ông khóa giữ đất, giữ nước, giữ mường, mời quân binh ông khóa giữ nương, giữ rẫy nhiều quân đi theo, mời ông dựng bản nuôi dân như tổ ong nhỏ, mời ao uổng nàng ngoan lấy quân theo xuống mường với Tạo, Lào, Luông, có đôi chân khỏe, Xá Mán Lào Lự đôi chân có hoa. Mời nàng Han người đẹp toàn diện có nhiều tài (trèo dừa có đôi chân lên trước) tất cả cùng xuống ăn cơm, dự hội. Trai làng Trời vào sửa soạn lấy voi, sửa soạn lấy ngựa, voi to cho bàn lớn, ngựa đẹp cho yên vàng, voi lớn bảo vệ chủ, ngựa lớn bảo vệ Phia, đưa xà lắc lên lưng voi và lên lưng ngựa. Voi lớn ngựa cũ cùng nhau tiến bước, voi đi chậm không lấy chân đạp, khi voi mệt không lấy chân đá, lấy chân đạp nàng Mường không bạo (khỏe), lấy chân đá nàng pi không sống lâu. Có roi vàng, roi bạc quân mường Trời khiến. Kéo quân qua cánh đồng lớn nhà Trời, có ruộng lúa vàng, qua làng, qua bản, qua cánh rừng vàng úa, vì vội quân binh không nghỉ, đến mường nàng Noọng đầu suối, mường nàng lo ru em, ru em ru tiếng vui, ru cháu lời hay. Đi xuống đến nương rẫy nhà Trời vào chọi chim khiếu, đi đến nương nhà Trời vào chọi chim cu, chim sáo, nơi này có ma quấn quýt bên nhau. Xuống đến rừng núi mường trời chim quạ đậu, ma mường trời chặt cây đánh dấu mường. Voi cùng ngựa ra đi nhanh xuống đến đất mường dưới lương gian, mường các thần linh lương gian hội họp, qua cánh đồng lúa vàng, qua cánh đồng lúa bạc, xuống đến suối nước trong, xuống đến suối nước tắm, xuống đến lương gian ta tắm cho voi, xuống đến mường này ta tắm cho ngựa, tắm voi xong ta về bản, tắm ngựa xong ta về mường. Đến sân nhà nàng Mường cho voi ngựa dừng lại, các quân đến tháo yên tháo đồ, cho voi ngựa nghỉ ngơi, sai quân binh bảo vệ lấy ngựa voi, bảo vệ đồ đạc; các phia lớn vào nhà nghỉ ngơi uống rượu, các binh quân chi tướng cùng nghỉ ngơi uống rượu, Xuống đến mường cho đi xem lợn, con lợn đẹp mới dược làm bữa, thịt lợn mổ ra để bày mâm cơn, hồn lợn gửi về Trời, lợn không buồn vì có Trời, cùng vua Trời xuống đây nên được dùng làm cơm.
     Cho trai mường vào bắt, trai em càm chân trước lợn ngã sấp, trai em cầm chân sau lợn ngã nghiêng, dao nhọn sắc ghé vào cắt tiết, tiết chảy ra hết thì lợn chết, khiêng lợn về tảng đá suối nước trong, thui lợn, cạo lợn trắng phau; mổ bụng làm sạch ruột sạch lòng, cạo thật sạch cho con cá lớn, làm sạch sẽ cho con cá chát được ăn, cá tệt ăn chạy về hát, cá chát ăn no trở về bằng, mọi thứ đều sạch sẽ đem về nhà, trai làng, chặt thịt, chia lợn ra nhiều mảnh, nhiều phần. Lấy nồi đồng to hai tai bắc lên kiềng, lấy nước trong xuống đổ vào, lấy củi cây pào, cây dẻ, cây xăng để đun. Nước sôi từ trong nồi ra, đều bốn bên thịt chín trắng phau, lòng lợn chín tới vớt ra thúng ra nia. Trai em chặt thịt ra nhiều món, dọn cho đủ các phần, gái làng đem lá chuối sang, mâm sợi mây dem đến, dọn thịt lợn cùng cơm đỏ cơm vàng có cả ché rượu lớn cùng đem sang, dọn thành cơm mâm cơm đẹp, cơm lành cho phìa lớn phìa già cùng binh quân được ăn. Sẵn mâm cơm nàng Mường sang mời, sẵn chỉnh rượu nàng mường sang mời, dẫn mâm cơm cho người mường Trời được thấy, kể mâm cơm cho mọi người được hay, mâm cơm đẹp như cơm dá nang (nàng đẹp, cơm sạch sẽ). Mo dẫn cơm nàng Mường mời ăn, tay trái nắm cơm dẻo, tay phải cầm đũa gắp, gắp thịt lợn thơm, gắp lòng lợn ngọt, gan phổi ăn vào mát, tim ruột ăn thật ngon, xương sống có mùi thơm, xương sườn mềm đủ tới, xương ức, xương sụn mời cùng thử, xương chân, xương cổ ăn thêm, mọi người cùng rót rượu ra, ăn tiết canh ngọt lịm, tiết canh làm mát lòng. Mâm cơn trai mường đưa ra, mâm cơm mường dưới đưa đến, cơm ngon, canh ngọt mọi người cùng ăn, được ăn cơm; bênh cho người mường dưới ở khỏe, hết tháng đi cày ruộng cả, tiếng sấm dậy đi cày ruộng mùa, cho họ làm ruộng dưới đừng thua, làm mùa ruộng trên không thiếu, bông lúa dài như dòng suối, lúa chắc như trứng cua, ruộng trên ngập đầu ngựa, cuối ruộng ngập đầu trâu đầu bò, lúa chắc như trứng chim, ai cũng mong như thế. Xá, Man, Lào, Lự đem về làm giống được đẹp như lời nàng Mường nói, được đẹp như lòng người Thái bản mường, lời nói vàng đôi tay trắng ngà giơ lên mời, giọng nói hay
nói tốt mời mọi người ăn ngon”.

Lê Tuyên 






























Từ khóa bài viết:

CÔNG KHAI KQ TTHC